Đền Cửa Thánh hiện là nơi thờ cúng ông Đinh Thái Vàng. Theo truyền thuyết tâm linh của các bậc tiền nhân trao truyền để lại, ông Đinh Thái Vàng là một vị tướng tài có công đánh giặc giữ yên vùng Châu của huyện Thanh Sơn. Trong một trận chiến đấu, ông đã dẫn dắt quân lính anh dũng chống trả nhưng không may thất thủ và bị thương nặng, trước khi mất ông để lại lời căn dặn thả xác trôi theo dòng sông Bứa (đến Cửa Thánh bỏ lại Cửa Thánh 2 cái tay, đến Cửa dày bỏ lại Cửa dày 2 cái chân, đén Cửa sông Dân bỏ lại cửa sông Dân cái đầu, còn cái thân cho đưa về chỗ chôn dau cắt rốn là Thú Thách Hưng Lợi chỗ đẻ mới chôn). Tại những địa danh vớt được thi thể của ông, người dân đã lập Đền thờ. Hiện nay, dọc dòng sông Bứa của hai huyện Tân Sơn và Thanh Sơn có 5 Đền cùng thờ chung một vị tướng là ông Đinh Thái Vàng. Đền đã tồn tại từ lâu đời nhưng đến năm 2005 đền mới đc được đ/c Hà Văn Nghị - Bí thư xã Thạch Kiệt (cũ) cho khôi phục bát hương và được thờ cúng từ đó đến nay. |


*** Sự tích truyền miệng về Đền Cửa Thánh
SỰ TÍCH ĐỀN CỬA THÁNH
PHẦN 1: Con Dái vàng (rái cá)
Có một cô thiếu nữ khoảng 14 tuổi ở dưới miềm suôi lên tìm chỗ ở và làm ăn. Đến thôn Hưng Lợi – xã Địch Quả vào nhà ông Táo Bản xin việc, ông Táo Bản cho ở và nhận làm con nuôi, tên là Đinh Thiết Chinh. Cả nhà ông Táo Bản làm một bãi ngô gần bờ sông Bứa. 3 năm sau cả bản cùng ra làm ngô ở bãi đó, bản dựng một cái luề giữ ngô ( trông ngô), cả bản trông cả ban ngày lẫn ban đêm, ông Táo Bản cho chị Chinh ra giữ. Có một con rái cá màu vàng hàng đêm lên nằm theo chị Chinh, ít lâu sau chị Chinh mang thai. Ông Táo thấy chuyện không lành, ông Táo cho Tuần Phiên ra hỏi căn nguyên, Tuần Phiên ra hỏi chị Chinh khai tên là Đinh Thiết Chinh từ dưới miền xuôi lên ở nhờ nhà ông Táo Bản, ông Táo Bản thương cho ở và nhận làm con nuôi nhà ông Táo Bản 4 năm nay, ông Táo Bản thương cho ăn, cho quần áo và việc làm. Năm nay cả bản ra trồng ngô ở bãi này, cả làng bản làm luề để giữ ngô, ông Táo Bản cho con ra giữ trông ngô cho cả bản, tối đến có một con rái cá màu vàng lên nằm theo ( không phải người), các ông tuần không tin rình thì thấy. Tuần Phiên về tâu lại với ông Táo Bản, ông Táo Bản và Tuần Phiên rình thấy vậy thật.
Táo Bản cho phép Tuần Phiên bắn chết làm thịt ăn tại đây không ai được đem đi đâu.
Tuần Phiên tâu lệnh làm đúng như lời Táo Bản lệnh, bắn chết con rái cá, cả bản đem làm thịt ăn.
Chị Chinh có ý lưu luyến nên mới thu nhặt tất cả các mẩu xương vụn không ăn được vứt bừa bãi dưới đất được một đống xương, chị gói vào mo cau rồi dắt lên mái luề, định bụng cất đi sau này chị chết nhờ người đem chôn nắm xương đó cùng chị vì có sự lưu luyến gì đó với mình.
Tuần Phiên và Táo Bản ra điều kiện cho chị Chinh là cái thai này đủ tháng sinh ra con rái cá thì thôi nếu sinh ra con người thì chị không được ở vùng này nữa mà phải rời đi nơi khác.
Chị Chinh sinh ra một đứa trẻ không phải con rái cá đặt tên là Đinh Thái Vàng, theo màu vàng của bố nó, sau rồi đổi tên là Đinh Thái Vàng thường gọi là cu Đinh.
Theo điều kienj của Tuần Phiên chị Chinh đành phải rời đi khỏi vùng đất này. Trước khi đi chị Chinh nói với ông Táo Bản cho con xin ở lại đây một năm nữa lúc cu Đinh chưa biết đi, khi cu Đinh biết đi con xin đi khỏi đây.
Chị Chinh chưa biết đi về đâu, lúc chị đi ông Táo Bản thương vì chị Chinh làm việc cần cù và nhanh nhẹn, dân bản ai cũng thương cảm nhà cho ái, nhà thì cho quần cho gạo, ông Táo Bản cũng cho tiền, quần áo và gạo. Ông Táo dặn sau này con ở đâu báo tin cho bố biết, con chào bố và cả nhà, chị bảo cu Đinh chào ông đi con, cu Đinh ngoan ngoãn cháu chào ông.
Khi rời đi chị Chinh vẫn nhớ gói xương con rái cá chị đem đi theo, hai mẹ con dắt nhau đi về miền ngược.
PHẦN 2: Cu Đinh
Có một người đàn bà khỏang 23, 24 tuổi dắt theo một đứa con trai khỏng 4-5 tuổi ở dưới miền xuôi lên đến xóm Chiềng ( nay là xóm Chiềng xã Kiệt Sơn), người làng hỏi; chị từ đâu đến, tên là gì? có việc gì, có sức khỏe lao động mà đi vậy?.
Chị nói con ten là Đinh Thiết Chinh năm nay con 24 tuổi, con của con tên là Đinh Thái Vàng quê ở Hưng Lợi, châu Thanh Thiên, tỉnh Yên Bái, con chửa hoang họ hàng nhà con đuổi đi, con lang thang tìm chỗ ở và xin việc làm, người làng mách bảo về nhà ông Thổ Tù mà xin việc làm.
Ông Thổ Tù nhận nuôi, vì có con nhỏ không ở trong nhà ông Thổ Tù được nên ông Thổ Tù cho người nhà làm cho hai mẹ con chị một chiếc lều ( ở nà cốc voi) cho quần áo, chăn màn gạo, muối và các dụng cụ nấu nướng, hàng đêm hai mẹ con ngủ ở lều, ban ngày chị đi làm việc cho nhà ông Thổ Tù, cu Đinh đi thả trâu.
Ông Thổ cho người nhà ra trồng ngô và một số cây ở xung quanh lều chị Chinh, trồng chuối, trồng dâu nuôi tằm, nuôi gà vịt… Cu Đinh đi chăn trâu rất ngoan và thông minh hơn tất cả trẻ trâu ở đó, cu Đinh thu hút được trẻ trâu của 3 xóm quanh đó, tất cả có 51 trẻ cả 3 xóm ( Chiềng Kịt, Chiềng Đồng, đồng Cúc), cu Đinh bảo gì các em trẻ trâu đều nghe theo, chia 5 khu vực chăn trâu như: Đồng cóc, Đồng than, Đồng chiềng, Đồng dọc, Đồng vèo, ngày nào thả trâu ở đồng nào là phải nghe theo cu Đinh, không ai được đi thả riêng. Cu Đinh tự nhận là tao là Thổ Tù. Tao phân công các em nữ trông trâu, các em nam xuống sông bắt cá, cua, ốc mang lên nấu ăn chung, em nào mang thức ăn từ nhà đi cũng ăn chung, hàng ngày thường làm như vậy.
Về nhà không em nào được nói với bố mẹ, không được nói dối, không ai được ăn cắp bất cứ một thứ gì của bố mẹ và dân láng.
Muốn chơi trò gì phải được Thổ Tù tý hon (cu Đinh) cho phép mới được chơi như; Đánh phệt, đánh quay, cướp cờ, đánh đu, ném còn…
PHẦN 3: Qủa Bưởi
Bên Tàu nhà vật lý chiếu thiên văn có sao trầu về phương nam ông Cao Lỗ đi về phương nam tìm người tài.
Đến xóm Chiềng Kiệt Sơn thấy một đám trẻ trâu ở đồng ruộng đang chơi trò cướp cờ, ông Lỗ xuống tận nơi ông hỏi em nào bày ra trò chơi này? Tất cả đám trẻ tản ra và đều nói với cu Đinh, Cao Lỗ nói tất cả các em tập trung lại đây chú giúp các em thêm trò chơi bổ ích.
Bọn trẻ hỏi trò gì?
Cao Lỗ nói chu làm trò chơi đố.
Bon trẻ hỏi đố gì?
Bây giờ các em cho một em đi tìm một quả bưởi to mang về đây, chú đào một cái hố giữa ruộng, trên miệng hố vừa lọt quả bưởi, miệng hố hẹp phải ấn mạnh quả bưởi mới lọt được xuống dưới hố, hố sâu một nửa sải tay, dưới hố rộng hơn, cháu nào lấy được quả bưởi lên mà không phải đào khoét miệng hố thì chú thưởng 2 lạng vàng để làm vốn cho trò chơi khác cho vui.
Cu Đinh nhận đi tìm quả bưởi, còn các em khác phân công nhau em trông trâu, em thì đứng xem Cao Lỗ đào hố, Cu Đinh lấy bưởi về chú Lố nhận bưởi đo và khoét thêm rồi ấn quả bưởi xuống hố. Đố các em lấy được quả bưởi lên mà không phải khoét miệng hố thì chú thưởng 2 lạng vàng.
Tất cả các em trẻ trâu người thì vót xiên, người thì chẻ lạt buộc quả bưởi hì hục mãi không sao lên được qua miệng hố, riêng Cu Đinh không làm.
Cu Đinh nói số vàng này phải lấy làm của chung ( tập thể) mới được, chú Lỗ nói là của chung tập thể mà, cả đám trẻ hỏi tập thể là gì? là của chung, cả đám ngừng lại để chờ ý kiến Cu Đinh phán. Cao Lố bắt ngay vào câu nói Cu Đinh. Thế thì em Đinh làm thể nào để lấy được quả bưởi lên được mà không khoét miệng hố?
Cu Đinh nói tất cả các em nghe đây, các em gái đi coi trâu, còn các em trai về nhà lấy ống gánh nước cả đòn gánh ra đây. Xuống sông gánh nước đổ vào hố này, còn tao đi tìm 2 cái lạt buộc chéo như cái quang để võng xuống dưới hố, thấy quả bưởi nổi lên lọt vào vòng quang lạt cho 2 đòn gánh xỏ chéo 4 người 4 đầu đón gánh nhấc mạnh thì quả bưởi lên khỏi hố thì ta được, cả đám trẻ hoan hô và làm theo.
Ông Cao Lỗ nghĩ bụng đã tìm được người tài đây rồi.
Cao Lỗ nói thế thì thôi vậy.
Cu Đinh nói thôi là thôi thế nào, chúng tôi còn làm để lấy thưởng chứ.
Cao Lỗ nói thôi không phải làm nữa, chú vẫn thưởng cho các em. Cao Lỗ thưởng cho các em 2 lạng vàng Cu Đinh đỡ 2 tay đón vàng cho cháu xin.
Cao Lỗ chào các cháu và đi luôn.
Đến giờ lấy trâu về mai mới chia nhau.
Chia thế nào được.
Về nhà bố tao đổi lạng vàng lấy 12 quan tiền.
Bố anh ở đâu?
Ông thổ đấy.
Sao gọi ông Thổ là bố?
Ông Thổ không có con trai thì tao gọi ông Thổ là bố chứ sao.
Có Công chúa nàng nữ Nhung đấy thôi mà anh phải gọi là bà đấy, tao gọi là bà còn tao là ông Thổ tù tí hon kia.
Thổ tù trâu à?
Thế làm thổ tù cho đám trẻ traauta đấy thôi,
Hôm sau thả trâu ra đồng hết rồi, Cu Đinh nói tập trung sang đây nghe tao phán, chia đều cả 3 làng có 51 người, 24 quan tiền, chia cho 30 em gái 2 người một quan, về phải đi coi trâu, 20 em gái 5 người 2 quan, còn lại mỗi người một quan số tiền này về phải đưa cho bố mẹ để chi vào việc nhà.
PHẦN 4: Trâu nước
Khoảng 1 tháng sau ông Cao Lỗ quay lại mang theo một cái bọc vải điều đến chỗ đám trẻ chăn trâu, tất cả đám trẻ xúm lại chỗ chú, các cháu cho chú hỏi ở đây có em nào lặn được suốt vực này không? Cả đám trẻ trâu đều nói Cu Đinh.
Cao Lỗ gặp riêng Cu Đinh. Cháu lặn suốt vực này thấy có gì lạ không?
Cu Đinh nói có một tảng đá hình con trâu, có 4 châu, có đuôi, đầu về hướng tây, mỗm há có răng to.
Cao Lỗ nói bây giờ chú lấy gói này xuống đút vào miệng trâu đá dưới nước cho chú, chú cho cháu 2 lạng vàng, Cu Đinh không ngần ngại liền cầm lấy gói theo chú Lỗ rồi cởi quần áo rồi nhảy xuống sông luôn, trong khi đi Cu Đinh nghĩ có phải chăng là hài cốt táng hàm rồng, Cu Đinh không đút gói hài cốt vào miệng trâu mà Cu Đinh cầm gói lên và nói cháu đút gói này vào mồm trâu nó rơi xuống đằng đuôi cháu cầm lên trả chú.
Cao Lỗ nói cháu xuống lấy đá ấn chặt vào đằng đuôi rồi để gói này vào mồm trâu thì nó không trôi nữa.
Cu Đinh nói như thế cháu phải lặn 2 lần mới được, Cu Đinh mặc lại quần áo rồi sắp bỏ về ông Cao Lỗ níu lại cố giúp chú mà. Cho cháu sang chỗ anh em trẻ trâu rồi cháu quay lại ngay.
Cu Đinh sang chỗ các bạn trẻ trâu cả đám ta sang moi vàng ông Tầu này đi.
Các bạn hỏi moi như thế nào? Cu Đinh nói moi như thế nào do tao miễn anh em sang hộ là được, để 10 người trông trâu còn tất cả đều kéo sang chỗ ông Tầu.
Cu Đinh nói cháu phải lặn xuống vực 2 lần thì hơi lâu, chú cho chúng cháu 1 lạng vàng công chăn trâu, còn cháu lặn 2 lần là 3 vậy phải cho cháu 3 lạng mới làm.
Cao Lỗ ừ được.
Cả đám kéo về chỗ thả trâu.
Cu Đinh cởi quần áo nhảy xuống sông một lúc sau ngoi lên, chú đưa gói cho cháu, lặn xuống một lần nữa, Cu Đinh không cho gói vào mồm trâu mà để chỗ khác lấy đá chen chặt rồi ngoi lên. Mặc lại quần áo và nói được rồi.
Cao Lỗ đưa 5 lạng vàng Cu Đinh đưa hai tay đón lấy cho cháu xin.
Cao Lỗ cảm ơn cháu và bỏ đi luôn.
Cu Đinh về chỗ thả trâu.
Các bạn trẻ trâu hỏi Vàng đâu?
Được rồi giờ tối rồi về mai bàn, mai thả trâu sớm nhé ở đồng thân.
PHẦN 5: Chia tiền
Anh em tập trung sang đây nơi cao nhất này, tất cả nghe đây. Thổ tù tý hon Cu Đinh phán cả đám ta có 51 người có 5 lạng vàng đổi lấy tiền chia nhau lấy về cho bố mẹ dùng việc, để lại số ít làm giải thưởng trò chơi những người đạt giải.
Đổi ở đâu? Chơi trò gì?
Đổi theo bố tao, cứ 1 lạng vàng đổi lấy 12 quan tiền.
Bố anh ở đâu?
Bố tao là ông Thổ còn ai nữa.
Ông Thổ đẻ ra anh đâu mà nhận là bố.
Bố không đẻ cũng nhận chả sao.
Ông Thổ có công chúa nàng Mỹ Nhung.
Bà Mỹ Nhung là giá đẹp…
Em lớn nhất nới chơi, không tranh cãi nữa, đồng ý chia thôi, việc bố con không phải việc chúng mình.
Tao Thổ tù tý hon phán, vàng đổi lấy tiền rồi.
Đoàn ta có cả nam nữ gồm 51 người chia như sau: 60 quan tiền mỗi người 1 quan, hết 51 quan, 1 quan thưởng tao tìm ra sáng kiến moi vàng tầu, còn bao nhiêu để lại làm của chung sau này trò chơi gì ai đạt giải thì thưởng 8 quan tiền, còn lại gửi người cẩn thận lài Mỹ Nhung.
Em lớn nhất nói bà Mỹ Nhung có đi chăn trâu với chúng mình đâu, em thứ hai nói không đi chăn trâu mà cũng cùng lứa tuổi mà ở nhà là chắc chắn nhất.
PHẦN 6: Mả táng hàm rồng
Cu Đinh nằm nghĩ người tận nước Tầu còn mang hài cốt sang tận đây nhờ mình để hộ chắc là hệ trọng lắm, mình phải tìm hài cốt bố cho vào hàm rồng ấy sau này lớn lên sẽ có thời cơ, mà hỏi ai? Hỏi mẹ mẹ có bảo không? Mẹ bảo chửa hoang họ hàng đuổi đi cơ mà. Cứ hỏi.
Mẹ ơi cho con hỏi mẹ chuyện này nhé. Mẹ đừng nói con ngu ngốc nhé.
Con cư hỏi mẹ nghe đây.
Bố con ở đâu, còn sống hay đã…cho con biết để con con đi theo, bạn của con hay trêu tức lắm mẹ à.
Thế là chị Chinh ngã ra, Cu Đinh đỡ lấy mẹ, mẹ sao hả mẹ? ở lều xa làng đang đêm con sợ lắm.
Chị Chinh mở mắt và khóc, mẹ thương con mẹ nói cho con nghe.
Mẹ nói đi.
Bố con không phải là người.
Ơ sao mẹ? mẹ nói tiếp đi con đang muốn nghe, mẹ nói thật nhé đừng dấu con nữa.
Chuyện dài lắm con ạ.
Dài con cũng nghe, đêm nay không kể hết thì đêm mai, con muối nghe thật kỹ, mẹ đừng dấu con mẹ nhé.
Mẹ chính thức không phải là người Hưng Lợi, mẹ ở dưới miền xuôi lên. Bố mẹ chết sớm, họ hàng nghèo đói, lúc đó mẹ mới 12 tuổi chưa nhớ được ở đâu và họ hàng cũng không, không biết ông trưởng họ ra sao. Chỉ nhớ tên mẹ là Đinh Thiết Chinh, đi tha phương cầu thực, đi mãi đến Hưng Lợi vào nhà ông Táo Bản Ông cho ở, cho ăn cho quần áo, cho làm việc, lớn lên cả làng làm bãi ngô ở bờ sông Bứa dưới kia, làm lều cho mẹ giữ ngô cả đêm, ngày làm việc ngoài luề ngô, tối đến có một con Rái cá màu vàng lên theo mẹ ở lều ngủ lâu ngày mẹ có thai con, dân bản làng nơi ấy cho là mẹ có thai với ai cho hộ biết để họ trị tội, mẹ nói hộ không tin.
Làm gì vật với người…
Các ông không tin rình thì thấy.
Ông Táo Bản cho Tuần phiên bắn chết làm thịt ăn tại đấy không cho ai mang về nhà, họ ăn song còn lại các mẩu xương vun không ăn được họ vứt lung tung ra bãi, mẹ có luyến thương nào ấy, mẹ cóp nhặt tất cả số xương, không biết đầu chân gì cả, mẹ gói vào để đấy không chôn cất vào đâu, mẹ định bụng khi nào mẹ chết nhờ người chôn cùng mẹ, vài tháng sau mẹ sinh ra con, ở vùng đó người thương thì ít, người ghét thì nhiều, mẹ con mình không ở lại được ở đó thế là mẹ con mình phải đi ăn xin, dắt con lên mãi đến đây con đã 4 tuổi, mẹ mới xin được vào nhà ông Thổ Tù, ông thương tình cho quần áo, cho cơm ăn, làm cho cái lều ở đây, ban ngày con về đi chăn trâu, mẹ về đi làm việc, tối hai mẹ con lại ra lều ngủ, lúc ra đi mẹ có mang theo nắn xương vụn không biết đầu, biết chân đâu cả, mẹ để trong tay nải này, chị Chinh vừa nói vừa mở ra cho con xem.
Thế hả mẹ, mẹ giữ lại cất đấy cho con.
Cu Đinh nhờ một ông thợ mộc đóng cho một cáo hộp như một cỗ quan tài nhỏ xíu để vừa số xương vụn kia mang về.
Con định làm gì thế.
Con để bố con vào đây, con đem xuống hàm rồng ở dưới vực kia.
Ai bảo vậy?
Có một ông Tầu sang chơi ông ấy bảo vậy.
Con đừng làm vậy bố con ngạt thở chết đấy.
Bố con có thở đâu, mà ông Tầu bảo để hài cốt bố con vào hàm rồng sau này con làm vua, mẹ làm Hoàng thái hậu, lúc nào mẹ trăm tuổi con để mẹ xuống với bố.
Cha mẹ mày.
PHẦN 7: Nhận con nuôi
Ông Thổ năm nay trên 50 tuổi đêm nằm mơ thấy lều mẹ con Cu Đinh nửa đêm tối mà sáng lên ông tưởng là cháy lều, sáng hôm sau cho người nhà ra hỏi chi Chinh và cháu hôm qua làm gì mà sáng thế.
Mẹ con cháu chẳng làm gì.
Cứ ngày mùng một và ngày rằm sáng lên như vậy, mãi đến tháng cuối năm chính ông Thổ ra tận nơi hỏi han và xem không thấy gì thay đổi đáng chú ý, ông Thổ nghi là quái ghở, ông Thổ cho người nhà đi đón thầy bói về thầy phán xét đấy là điều lành.
Tục ngữ nói một lầ chưa thật, hai lần chưa thà, ba lần mới thiêng, thế là tháng sau lại cho người nhà đi đón một ông thầy bói ở nơi khác về ông thầy bói cũng phán tương tự như lần trước và nói đứa trẻ ông mướn chăn trâu ở lều ngoài kia sau này làm nên ông tướng đấy, có khả năng cả hàng tổng này phải kêu nó là tướng quân, năm sau chính ông Thổ đích thân đi đón một ông thầy bói ở xa về đầu năm thầy bói phán cũng như hai lần trước và nói thêm nên nhận đứa trẻ làm con lúc nó còn ít tuổi này sau này lớn lên ông Thổ làm bố nó, tiễn chân ông Thầy bói về.
Ông Thổ đẵn đo, lấy ý kiến dân làng, nhà mình có một con gái hơn Cu Đinh hai tuổi rất hiếm hoi, cuối cùng ông quyết định đón Cu Đinh về nhà cho học vào buổi tối, học song ra lều ngủ và đón một ông thầy Đò về dạy Cu Đinh và cả con gái mình học luôn một thể. Cu Đinh học rất thông minh thầy dạy đến đâu học thuộc lòng đến đấy, dở một cái là ngày đi chăn trâu, tối về học bài học song lại phải ra lều ngủ, từ nhà ra lều có đến hơn một dặm đường rất vất vả cho nó, đành đón cả chị Chinh về nhà, coi như người trong nhà, ra mắt với dân làng là con nuôi rồi tên cho Cu Đinh là Đinh Thiên Vàng, Cu Đinh nằn theo bố, chị Chinh nằm theo bà Thổ.
Lại sảy ra chuyện khó sử “lưỡi dân sóng biển”.
Thổ Tù làng ta hai vợ mà chưa được ăn cưới.
Được bà Thổ biết nghĩ xa bà nói với ông Thổ, ông chả lo câu nói ấy đáng là em nói còn thiên hạ nói chớ nghe, ông yên tâm mà làm việc.
PHẦN 8: Trường thành
Vài năm sau Đinh Thiên Vàng lớn lên làng có việc phải giải quyết được Vàng góp ý đều thành công.
Ông Thổ Tù đã nhiều tuổi gần 70 tuổi ông làm lễ mời cac chức dịch và nhân dân, mời cả các ông Thổ Tù trong Tổng về ăn uống chứng kiến lễ sang tên và bàn giao cho Đinh Thiên Vàng làm Tù Trưởng coi việc làng, làm việc nước, trông coi việc xã hội.
Từ đó nhâ dân đều phục tùng làm ăn khá giả, nhân dân giầu có.
Tân trưởng chiêu các người tài về phân công các bộ phận công việc làm ăn chủ yếu là phát triển kinh tế.
Tổ chức các bộ môn trồng trọt, chăn nuôi, nội chính, giao thông, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, công nghiệp, thương nghiệp, thủy lợi, thông tin…
Trồng trọt các loại cây ngũ cốc, làm ruộng nước, làm nương rẫy, trồng màu như ngô, khoai, chuối…
Chăn nuôi đại gia súc, tiểu gia suc, gia cầm, trâu bò làm sức kéo, ngựa sức vận chuyển, làm phương tiện đi đường.
Nội chính cai quản dân số, đóng góp, kiểm soát canh phòng trật tự.
Xây dựng trường lớp, đường xá, khuyến khích các chau học tập…
Ngoại giao đi lại với những chiều đình, bản xung quanh trao đổi các phương tiện, phương thức canh tác, các loại giống…
Công nghiệp thợ đúc các dụng cụ nhà bếp, dụng cụ sản xuất, văn hóa, dụng cụ canh phòng…
Thương nghiệp trao đổi hàng hóa với các chiều đình, bạn bè, trao đổi kinh nghiệm…
Thủy lợi đắp phai làm mương, đào ao thả cá hỗ trợ thức ăn hàng ngày.
Thông tin truyền các tin hay, biểu dương các công việc và người làm tốt, công việc tốt.
PHẦN 9: Báo thù
Ở bên Tầu ông Cao Lỗ ngày đêm chờ tin vui phát, không thấy có gì đáng kể vẫn ở mức bình thường, chỉ nhỉnh hơn một tí không đáng kể, hai năm chiếu thiên văn vẫn thấy sao trầu về phương nam, có câu rằng ngôi nhà 3 tháng, táng mộ 3 năm thì phát tài chờ 3 năm 4 năm rồi 6 năm.
Cao Lỗ đi đón thầy bói cao tay về thầy bói phán “ cổ thì hẹp biệt phân” nghĩa là mả bố để chệch hàm rồng, Cao Lỗ suy nghĩ ra đúng thằng trẻ chăn trâu đã sỏ mình, phải xử, ông thầy bói khuyên cứ để vậy đã cốt yên bề trên là được hài cốt cứ vẫn ở gần đấy như thể nào, bây giờ cho người đi về phương nam mà thăm dò cho rõ ngọn ngành mới biết cách xử lý.
Cao Lỗ nhờ một nhà địa lý đóng vai là một ông đồ sang phương nam mở trường tư dạy học, đến tại địa bàn Kiệt Sơn xin mở trường tư.
Nhà địa lý nhận đi xuống phương nam đi đến làng Kiệt Sơn xin được việc rồi bắt đầu mở trường tư dạy học được 3 năm đã đông học sinh, học sinh ai cũng yêu quý thầy, nhà địa lý thu thập được nhiều thông tin về nói lại với Cao Lỗ, ở địa bàn phương nam có ông Thổ tù là hoàng gia của mường họ giầu lắm, địa lý không thuận tiện cho việc trả thù cho mấy.
Cao Lỗ cùng nhà địa lý hai người cùng thảo luận ý kiến muốn đánh được họ trước hết phải có quân binh giảo, võ nghệ cao cường, vũ khí tốt, lương thực vàng bạc nhiều, thông thạo địa lý.
Lấy đâu ra?
Tâu lên Chúa.
Tâu lên Chúa, Chúa thỏa hiệp cho chiêu mộ quân một nửa nước về huấn luyện cho thông thạo, còn nửa nước kia huy động lương thực thực phẩm, vàng bạc, đồng sắt làm vũ khí tốt chuẩn bị đầy đủ cho đi một lần được thua, không cho lần hai nữa và phải báo cho đối phương biết trước 3 năm mới được khởi công.
Cao Lỗ cùng nhà địa lý phân công nhau.
Cao Lỗ đi mộ quân cho đầy đủ và huấn luyện quân chu đáo.
Nhà địa lý huy động lương thực, thực phẩm, vàng bạc, đồng sắt, rèn vũ khí đầy đủ với nhu cầu trong 3 năm, chon ngày xuất quân.
Nhà địa lý xuống phương nam một lần nữa để thăm dò địa lý, lần này đi không lâu, đóng vai thầy đồ đi thăm học sinh và báo tin Cao Lỗ sắp sang báo thù về việc ngôi mả lệch đi chỗ khác, chủ yếu xem trận địa là chính.
Trong ngày thượng lộ là ngày mùng một tháng giêng là ngày đầu tháng, đầu năm dần, 3 hộ chắc thắng trăm phần trăm.
PHẦN 10: Tin Nghịch
Thổ Tù nhận được tin không lành Cao Lỗ bên Tầu mộ quân sang đánh chiều ta về việc mộ mả báo thù vì cướp mộ hàm rồng.
Tổng thổ họp các bộ phận bàn cách chống cự.
Hội nghị nhất trí cương quyết không cho chúng xâm lấn chiều ta.
Trước hết tuyển mộ một số quân tương đối đông đảo vào và huấn luyện cho thành thạo võ nghệ cao cường hùng mạnh, chu đáo.
Tổng Thổ cho sứ giả sang các nước mời các võ sư cao cường về huấn luyện binh sỹ và chia làm 10 khu vực huấn luyện.
Công nghiệp cho thu gom sắt, đồng đúc rèn vũ khí cho sắc bén vừa sức với quân lính địa phương chiều ta, nhân dân đóng nỏ, uốn cung, vót tên.
Huy động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm và sơ tán, cất giấu lương thực làm vườn không nhà trống khi có giặc đến, không gặp được một người, không tìm được lương thực, thực phẩm.
Huy động nhân dân tập trung hết nhân lực nam giới, chặt hết cây trên núi cao, phát gốc bằng mặt đất, các cây gỗ to từ một gang tay trở lên tập trung lên đỉnh núi xếp có thứ tự, giặc đến kéo dây gỗ lăn xuống là giặc chết hết.
Đồng thanh nhất trí.
Thổ tổng phân công ông Nội chính làm chỉ huy trưởng của triều đình, còn các bộ phận khác mỗi một bộ phận làm một việc, phần việc do ông Nội chính chỉ hủy trưởng phân công cho hợp lý, xuống các làng bản triển khai chủ trương vì chiến tranh nhân dân thì đan phải biết, dân phải làm tiến hành trong 3 năm.
PHẦN 11: Cấp báo
Một viên thông tin cấp báo
Giặc Tầu tiến quân vào chiều ta, chúng tiến vào hai mặt, một bên là phía tây tướng là Cao Lỗ, một bên là phía bắc tướng là ông thầy đồ dạy học ở chiều ta năm xưa không biết tên, cách chiều ta khoảng 12 dặm.
Thổ Tổng hoàng gia của mường phán.
Tổng quân lính đã được huấn luyện chia làm 2 quân đoàn, chỉ huy do ông Nội chính chỉ định, một quân đoàn ở lại địa phương làm quân dự bị và hướng dẫn nhân dân sơ tán, một quân đoàn chia làm 5 tiểu đoàn chiến đấu, một tiếu đoàn lên núi cao đánh giặc trực lăn gỗ khi có hiệu lệnh, 4 tiểu đoàn giữ 4 hướng, không được chống cự, mỗi tiểu đoàn có một chỉ huy cao cường, hướng nào giặc lên đông quân, gần đến lệnh ra hiệu lăn gỗ, các quan lại cho một số thường trực canh phòng và cảnh vệ, che chắn điều hành vũ khí và nhân lực, còn phần đông sơ tán với dân.
Cuộc chiến bắt đầu
Phía tây hò hét tiến quân và bắn lên tới tấp, tên bay như đàn ong, người kéo lên gần lên tới, ra hiệu gỗ bắt đầu lăn, giặc không kịp trở tay, không tránh được chết như rạ, kêu la và tên bắn lên yếu ớt dần, về hướng nam không có tiếng hò hét, không có tên bắn lên chúng đánh lạc hướng kéo lên đông hơn hướng tây, ra hiệu gỗ lại lăn tới tấp giắc không tránh được chết gần hết.
Hướng đông chúng không lên, chúng buộc bông vào đầu tên tẩm dầu đốt và bắn lên, gặp chỗ khô bén lửa cháy lên, chỗ nào thấy có giỡ chúng bắn nhiều vào.
Hướng bắc lại có tiếng hò vang tiến lên, hướng này giặc càng đông, quân ta bắn ra yếu chúng càng tiến nhanh, ra hiệu gỗ lại tiếp tục lăn nhiều hơn trước, gỗ lăn đến đâu giặc chết gần hết còn sót lại vài chục người.
Thế giặc yếu hô thu quân và rút lui, số quân giặc co lại còn non nửa, chúng không hàng mà chúng chạy thẳng.
Quân ta không đuổi theo mà còn thả tù binh.
PHẦN 12: Chiến tranh chấm dứt
Tổng Thổ mường Đinh Thiên Vàng ra lệnh cho dân hồi cư về làng xóa dấu vết chiến tranh.
Trước hết tập trung nhân lực gần đây về chôn hết các xác giặc ở công đường và ngoại ô, xác nằm chỗ nào thì đào gnay chỗ đấy, cho đầu quay về phía bắc, chôn mỗi xác một hố, không chôn chung, phải làm bia ghi họ tên theo thẻ bài của mỗi xác, thắp một nén hương, phải ghi sổ dữ liệu để sau này thân nhân còn tìm đến cám ơn người chôn cất.
Về phía ta những chiến sỹ đã làm tròn nhiệm vụ phải làm nghĩa trang vào một khu vực nào đó để thuận tiện và phải ghi công và báo tin cho thân nhân để sau này có người thân đến thắp hương và cử một người trông nom hương khói cho liệt sỹ vào ngày rằm, mùng một hàng tháng.
Còn anh em bị thương cho về tập trung một nơi mời các lương y, ông làng, bà mế về làm thuốc và cho người phục vụ.
Khao quân, liên hoan tổ chức các trò chơi, đánh đu, ném còn, mua hát, thi bắn nỏ linh đình 3 ngày 3 đêm.
Cho phép nhân dân mỗi xã mổ một con trâu ăn mừng thắng trận.
Xây dựng lại các tổ chức, thêm bộ quốc phòng, tài chính, y tế, nhà thương, nội môn làm việc ở một gò đồi ( bây giờ gọi là núi trẹ), là cơ quan triều đình, còn về cấp dưới mỗi mường xã có một ông thổ tù, mỗi làng bản có một ông quan làng, tiếp tục xây dựng làng bản ngày càng giầu đẹp, mỗi tuần trăng luyện việc quân lính ba ngày đề phòng diễn biến, tiếp tục làm đất để gieo cấy vụ mùa tới.
Mùa thu năm sau ( năm Thìn)
Một thông tin viên báo tin có một phái đoàn bên tầu trưởng đoàn là Cao Lỗ xin vào yết kiến.
Lại là Cao Lỗ.
Cho vào nơi tiếp khách gặp nội chính và quốc phòng, Cao Lỗ thưa hai ngài tôi Cao Lỗ sang gặp triều đình các ông có 3 phần việc.
Ngài nói đi.
1. Xin đền bù chiến tranh vừa qua.
2. Cho xin số hài cốt của những người tham gia chiến tranh năm kia.
3. Xin cầu hôn Công chúa nàng Mỹ Á Đinh Thiên Vàng cho con trai tôi là Cao Biến.
Việc ngài phải xin ý kiến Tổng thổ Hoàng gia của mường mới được.
Đoàn tôi xin được gặp ngài của mường.
Các ngài ở lại tuần sau trả lời.
Họp các bộ lấy ý kiến chung.
Thưa ngài phía triều đình chúng tôi trả lời.
1. Về Đền bù chiến tranh cho miễn.
2. Về Cầu hôn Tổng thổ nói “ Bất diên cau tục vô kiến” ý nói không làm thông gia với giặc.
3. Về hài cốt mỗi một hài cốt phải tra công cho người chôn cất 2 lạng vàng, phải đưa 5 nghìn lạng vàng trước, phía chúng tôi có 8 liệt sỹ mỗi người 500 lạng vàng, phải làm giấy cam kết mới được đào bới, vào làm việc đúng giờ hành chính, người làm việc mặc quần đùi ngắn, cới trần, dụng cụ phía triều đình cho mượn, túi đựng hài cốt triều đình tôi cho đủ mỗi hài cốt một chiếc chiếu, thiếu đâu cho thêm. Triều đình tôi có người kiểm tra hàng ngày, song phải tập trung hài cốt một chỗ chúng tôi kiểm duyệt và bổ xung, lúc nào sang làm việc cho 2 chiến sỹ triều đình tôi bị quân các ngài bắt lúc đánh nhau về luôn và bồi thường cho mỗi người chiến sỹ đã làm việc cho các ngài hai năm nay mỗi người 1 trăm lạng vàng, khi sang làm việc cho triều đình tôi biết trước 10 ngày để chúng tôi cử người đón.
Cao Lỗ nhất trí theo lệnh.
PHẦN 13: Voi phục
Năm sau có một viên thông tin cấp báo.
Có một đoàn bên Tầu đoàn trường là Cao Biền xin vào yết kiến.
Mời vào thường trực Chẹ Bặn gặp nội chính, quốc phòng tiếp khách.
Thưa ngài đoàn tôi Cao Biền đến đây xin để tham quan con voi phục ở bến Vèo, tin đồn bảo nó đẹp lắm.
Qua khảo sát con voi đẹp thật, triều đinh nen đúc 2 con gươm bướm vàng đeo vào tai voi như thế càng đẹp thêm mà voi được trang trí đẹp sẽ phù hộ cho triều đình ngày càng giầu mạnh và khá giả.
Chúng tôi tìm thợ chuyên nghề đúc cao tay về giúp.
Làm vào lúc nào?
Mùa khô này.
Chúng tôi đóng chối làm lều tại chỗ con voi bến Vèo, mua củi làm tại luề, quyên góp vàng và không cho người làng vào xem.
Nghe tiếng động giữ dội.
Cho kiểm tra lại thấy chúng không đúc vàng bạc gì cả, chúng cho thợ cắt cổ con voi rồng đá trầu bến Vèo.
Bộ quốc phòng cử một tiểu đoàn xuống cho mời về trụ sở hành chính làm việc, chúng không về, chúng bỏ chạy ta đuổi có một kỹ sư ra cản quân ta, quân ta chém chết, bon chúng chạy mất, xác kỹ sư trôi xuống vực cửa hách coi như con bò chết. Bây giờ gọi là vực cánh bò 1, cửa hách 2, ruồi nhặng như đàn ong, ai qua chỗ đấy cũng phải chạy, bây giờ gọi là Pưa Tiếp (Khúc sông giáp ranh giữa xã Kiệt Sơn với xã Thạch Kiệt).
Phần 14: Mỹ Á
Tết trung thu trăng sáng tỏ và đẹp Công chua nàng Mĩ Á đi cùng hai nữ tỳ đi giạo cảnh chẳng may gặp một con hổ dữ bắt cắp đi mất, hổ mang Công chua lên bưa Ngào đắt vào tảng đá đó. Bây giờ gọi là tảng đá nàng nằm.
Ông lang xóm Chiềng hô hào nhân dân và quân lính xóm Chiềng đánh chiêng trống bao vây bắn sống con hổ và lấy lại nàng Mỹ Á Đinh Thiên Hoàng.
Phía tây có sông bứa có vực sâu chắc hổ không xuống được nghĩ như vậy, quân lính hò hét tiến vào 3 phía, con hổ vác Công chúa nhảy xuống sông sang bên kia nà Néng 1 và chạy lên đỉnh núi cao về phía Đồng Than, cắn chết Công chúa nàng Mỹ Á, hổ bỏ Công chúa lại đỉnh núi, rồi hổ chạy mất, dân làng lấy xác Công chúa về làm lễ mai táng, rồi đặt tên núi ấy là núi Mỹ Á cho đến nay.
PHẦN 15: Về báo mẹ
Đến vài năm sau một viên thông tin cấp báo.
Có toán quân giặc tiến công vào triều ta tướng là Cao Biền, cách triều ta 12 dặm về phía bắc.
Tổng thổ cho bày trận như lần trước, số gỗ lăn giặc năm xưa chưa mục lại đưa lên đỉnh núi xếp lũy như năm xưa, chỗ nào thiếu gỗ tìm thêm nhân lực cũng bày như trước, chia làm 2 sư đoàn quân lính lên núi chiến đấu, nửa đi theo dân làng sơ tán.
Lần này giặc không lên núi mà kéo thẳng vào Chẹ Bặn hò hét tiến vào.
Tiểu đoàn phía bắc ta chống cự yếu, trên đỉnh núi cao nghe tiếng động báo hiệu cho cả 3 phía kia về, xuống chiến đấu suốt 3 ngày đêm, chưa phân thắng bại, sang ngày hôm sau chúng vào được lũy, đến lũy Cửa mường canh vệ không chống cự được, Cửa Mường bị 3 nhát dao.
Tổng thổ Cửa Mường Đinh Thiên Hoàng cùng 16 cảnh vệ định chạy về làng báo cho mẹ và dân làng biết là mình không thể sống được nữa, nằm lại đây số cảnh vệ đi theo phân công người về báo làng vì làng sơ tán nên phải đi tìm nên phải 3-4 người ngồi giữ ông Thổ, người đi tìm thầy lang đem thuốc về cấp cứu.
Giặc thắng trận kéo về Đồng Than làm cơm ăn, chúng nhóm nhiều bếp chỗ nào cũng thấy than. Nên gọi là Đồng Than cho đến nay. Giặc đánh thắng là tranh nhau ngôi mộ mà chúng không chiếm đất, chúng rút về Tầu, chúng thả lại quân ta bị bắt.
PHẦN 16: Làm theo lời dặn
Dân làng chạy ra đến nơi đỡ ông Tổng dậy, ông nói với dân làng, bố, mẹ, vợ, con. Thương con bất hiếu này lúc nào chết lấy ra sông bứa mà trôi xuôi, đến Cửa Thánh bỏ lại Cửa Thánh 2 cái tay, đến Cửa dày bỏ lại Cửa dày 2 cái chân, đén Cửa sông Dân bỏ lại cửa sông Dân cái đầu, còn cái thân cho đưa về chỗ chôn dau cắt rốn là Thú Thách Hưng Lợi chỗ đẻ mới chôn.
Mỹ nhung anh đừng nói vậy, anh em làng xóm thương anh đã đi đón Lang y về nhà thương rồi, cả làng dìu ông Tổng về nhà thương.
Ông Tổng hỏi.
Ông nội chính có chảng thát không, ông có ở đây không?
Thưa có ạ.
Tổng tôi Đinh Thiên Hoàng giao trách nhiệm nặng nề, thay mặt tổng triều hồi dân, làng mạc hồi cư và tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh, trước hết cho dân tập trung nhân lực lấy hết hài cốt chiến sỹ ta đã làm tròn nhiệm vụ về nghĩa trang và báo công cho thân nhân họ, còn nhân dân làng bản trở lại bình thường làm ăn, ôn luyện và chiêu mộ thêm quân lính đề phòng. Nói đến đây Tổng lịm đi rồi tắt thở, nhân dân, gia đình hoàng gia làm theo lời dặn.
Sau này, chỗ có nhiều máu của ông làm một cái miếu gọi là nhà thờ của mường, thửa ruộng ấy không cày cấy về sau ông Thổ Tù đời sau cho trồng cây sui ( Hiện cây sui vẫn còn).
Cửa Thánh xóm Chiềng Át- xã Thạch Kiệt 2 cái tay, làm một cái đền thờ mường (nay là Đền Cửa Thánh).
Cửa Tằn xóm Bông lâu xã Minh Đài 2 cái chân làm một cái đền thờ mường.
Cửa sông dân xóm Trại – xã Võ Miếu cái đầu làm một cái đền thờ mường, ngày mùng 7-9 tháng giêng ông Quan huyện Thanh Sơn làm chủ lễ, 5 ông Chánh tổng làm quan viên, cả 3 xã trong huyện về dự lễ mổ trâu, có các trò chơi như: Trèo cây, cờ người, bị mắt bắt dê, bắn nỏ, trống bè bắt vịt…
Thụ thách ( đá sách) Địch quả làm một cái đền thờ của mường. ( Nay là ngã ba Việt Tiến).
Sự tích này xã Thạch Kiệt nhận bản sao của Cụ Cao tuổi xã Kiệt Sơn. Sau khi đọc chúng tôi thấy khớp với câu chuyện truyền miệng của các cụ xã Thạch Kiệt thường kể cho con cháu nghe trước kia. Chúng tôi đã dịch và viết thành bản đánh máy như trên. Tuy nhiên có những câu từ do in không rõ hoặc câu từ địa phương nên chúng tôi đã dịch thành câu từ phổ thông để người đọc dễ hiểu.